Tìm hiểu về xuất sứ đá Aquamarine

410

Đá Aquamarine được gọi với cái tên yêu quý mà mọi người đặt cho là “Viên ngọc của đại dương” không chỉ bởi vẻ đẹp khó cưỡng của màu xanh biển thuần khiết mà còn vì đá Aquamarine còn mang một nguồn năng lượng tâm tinh sẽ làm cho những ai sỡ hữu nó có cái nhìn trong sáng, tốt đẹp hơn, mang lại thịnh vượng trong cuộc sống

Thông tin chung về đá Aquamarine. Tên gọi của đá Aquamarine bắt nguồn từ một từ ngữ Lating có nghĩa là “nước biển” gồm 2 từ ghép lại là Aqua và marine với nghĩa là nước và biển. Đúng với ý nghĩa của cái tên, màu sắc viên đá từ màu xanh nhạt đến trung bình và xanh biển đậm. Và đá Aquamarine thuộc họ đá quý Beryl mà nổi tiếng nhất  là với Ngọc Lục Bảo – một trong “tứ đại mỹ nhân” của giới đá quý (Ba loại còn lại là: Kim Cương, Ruby, Saphire)

Đá Aquamarine và Ngọc Lục Bảo thuộc cùng họ đá nhưng với mỗi loại đá thì chúng lại có một đặc điểm riêng nổi bật mà không đá nào có. Đá Aquamarine và Ngọc Lục Bảo đều có công thức hóa học cấu tạo từ Silicat –  Nhôm – Berili nhưng màu Ngọc Lục Bảo được tô màu bởi lượng Crom (và đôi khi là Vanadium). Trong khi đó đá Aquamarine có màu sắc được tạo nên từ các tạp chất sắt trong chất Beryl không màu (Goshenite). Hai chất đá này có cùng khối lượng riêng và chiết suất tương tự, nhưng Ngọc Lục Bảo có khuynh hướng mờ trong còn đá Aquamarine được biết đến với độ trong suốt và rõ nét.

Xuất xứ của đá Aquamarine Cái nôi sản sinh ra đá Aquamarine được biết đến nhiều nhất là Brazil khi tại đây có nhiều mỏ phân bố khắp đất nước. Ngoài ra Aqua còn được tìm thấy ở Úc, Myanmar (Miến Điện), Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Madagascar, Zimbabwe… Việc tìm kiếm số lượng Aquamarine lớn nhất bắt đầu từ năm 1910 khi mỏ “Minas Gerais”  ở Marambaya (Brazil) đã phát hiện một hòn đá dài 243 Ib (khoảng 110,5 kg), dài 18 inch (khoảng 48,5 cm) và đường kính 15,5 inch. Sau đó được cắt thành nhiều viên đá quý với tổng trọng lượng hơn 100.000 carats. Đây được xem là tảng đá thô Aqua lớn nhất từng bị cắt

Đá Aquamarine khá bền và có độ cứng cao từ 7.5 – 8 trên thang Mohs. Đá có sự lấp lánh giống như thủy tinh, có độ rõ nét cùng màu sắc bắt mắt so với nhiều đá quý khác tương tự. Cường độ màu sắc và sự rõ nét tông màu của đá là tiêu chí quan trọng nhất khi đánh giá Aquamarine, tiếp theo là chất lượng và đồ kì công của sản phẩm được làm ra. Bằng cách thống kê lượng sắt và thành phần các nguyên tố vi lượng, cấu trúc tinh thể sáu mặt của Aquamarine để có thể dễ dàng phân biệt nó với các loại đá cùng có màu xanh biển khác như Larimar, Amazonite, Tourmaline, Saphire và Spinel.

Xác định giá trị viên đá Aquamarine Như đã nói ở trên, Aquamarine đi từ xanh nhạt đến xanh thẫm. Màu sắc càng đậm thì giá trị càng cao, mặc dù hầu hết Aqua thường là màu xanh nhạt hơn. Màu xanh thẫm là màu được nhiểu người mong muốn nhất những rất hiếm khi bắt gặp ở các mẫu vật lớn. Màu sắc là một trong những tiêu chí quan trọng nhất khi đánh giá đá quý màu, nhưng không giống như các loại đá quý khác, Aquamarine không bị giảm giá trị bởi cường độ màu thấp hơn vì hầu hết Aqua là màu pastel và khá nhiều người thích viên đá lấp lánh sáng trong hơn màu sắc. Một số viên đá Aquamarine trên thế giới xuất hiện một số đặc điểm hiếm hoi là hiệu ứng mắt mèo (Chatoyancy) hoặc hiệu ứng sao (Asterism) với sáu tia sáng trong một làn sóng sống động. Những mẫu vật này khi được tìm thấy dù chưa qua xử lý đã có chất lượng cao, hiếm có nên người bán có thể ra cái giá trên trời.